Phạm Sỹ Liêm Viện Nghiên cứu đô thị và Phát triển hạ tầng (IUSID)
Mở đầu
Về mặt hành chính, đô thị nước ta từ loại 4 trở lên thường có khu vực nội đô và khu vực ngoại thị. Khu vực nội đô có địa giới rõ ràng, còn trong khu vực ngoại thị thì chỉ có vùng ven đô (peri-urban area) là phần khu vực ngoại thị bao quanh nội đô có đời sống kinh tế (việc làm, lưu thông sản phẩm …) gắn liền hằng ngày với khu vực nội đô.


Trong quá trình phát triển nhanh của đô thị nước ta, vùng ven đô, đặc biệt là các đô thị lớn, trở nên không ổn định: mép ngoài của nó loang ra xa còn mép trong thì bị nội đô “gậm nhấm” và thôn tính, khiến một số làng ven đô nằm lọt vào trong nội đô, gọi là làng nội đô.
Trong khi các nhà quy hoạch đô thị ít để ý đến tình hình này thì chính quyền đô thị lại rất lúng túng trong quản lý xã hội, quản lý xây dựng tại những nơi chưa có khuôn khổ pháp lý thích hợp.
Là người nghiên cứu thể chế quản lý đô thị, tôi quan tâm đến vấn đề nói trên và xin đưa ra một số kiến giải bước đầu về phát triển bền vững vùng ven đô và làng nội đô.
Làng ven đô
Làng trong vùng ven đô vốn là làng n«ng nghiÖp ngoại thành bình thường nhưng vì đô thị mở rộng nhanh mà trở nên gần gũi với nội đô, do đó đời sống kinh tế của làng bị đảo lộn để thích ứng với tình thế mới, kéo theo những biến đổi sâu sắc về lối sống và đời sống tinh thần của người dân.


Làng ven đô cấu thành vùng ven đô. Bề rộng vùng ven đô phụ thuộc chủ yếu vào tầm ảnh hưởng của nội đô, thời gian để đi từ nơi xa nhất vào mép nội thành thường vào khoảng 20~30 phút. Khi phương tiện giao thông còn thô sơ, bề rộng đó vào khoảng 2~5 km, còn ngày nay phương tiện c¬ giới nhiều hơn nên có thể đến 10~15 km hay hơn nữa. Bề rộng khu vực ven đô có thể bị hạn chế bởi chướng ngại tự nhiên như sông hồ, núi đồi.
Tận dụng lợi thế ở cạnh nội đô, nông dân chuyển từ sản xuất lương thực sang sản xuất thực phẩm như rau quả, thịt cá, và trồng hoa để đáp ứng nhu cầu nội đô, đẩy mạnh thâm canh vì đất canh tác giảm nhanh do nhiều người nội thành ra mua đất có giá rẻ hơn để xây nhà ở. Nhiều dân làng vào nội thành kiếm việc làm theo kiểu sáng đi tối về. Giá trị đất đai tăng lên và quá trình đô thị hóa tự phát lặng lẽ xẩy ra dù khu vực đó có nằm trong quy hoạch hay không. Tình trạng này khác với hiện tượng “vòi bạch tuộc”(sprawl) tại các nước phát triển, khi nhiều người giàu vì chán ở trong trung tâm đô thị ồn ào, ô nhiễm và tắc nghẽn giao thông, nên bỏ ra ven đô mua đất làm nhà ven đường.
Việc quản lý hành chính làng ven đô đứng trước các thách thức sau đây:
1. Đất đai bị thị trường BĐS ngầm dần dần thôn tính;
2. Việc chuyển đổi kinh tế diễn ra tự phát, lộn xộn, kém hiệu quả, đôi khi nguy hiểm như nông dân lạm dụng thuốc trừ sâu và phân hóa học trong sản xuất rau củ; khoảng cách giàu nghèo tăng nhanh;
3. Kết cấu hạ tầng yếu kém khiến môi trường bị ô nhiễm;
4. Thể chế hành chính và năng lực chính quyền cơ sở không theo kịp diễn biến của tình hình.
Tóm lại, vùng ven đô ở vào tình trạng nửa tỉnh nửa quê, không có chương trình phát triển dài hạn, luôn luôn đối diện với viễn cảnh bị “xóa sổ” để mở rộng nội đô. Thế nhưng làng ven đô càng tự phát phát triển thì càng trở thành vật chướng ngại lớn cho việc mở rộng nội đô trong tương lai! Đây là chủ đề nghiên cứu khó khăn cho các nhà đô thị học và là thực tiễn khó xử lý cho chính quyền đô thị.
Làng nội đô
Mục đích mở rộng đô thị là để có thêm đất đai xây dựng chứ không phải để phát triển các khu dân cư nông thôn. Sau khi không còn đất canh tác thì các ngôi làng vẫn tiếp tục tồn tại bên trong địa giới nội đô, vì việc thu hồi đất nơi này rất tốn kém. Thực ra làng nội đô không phải bây giờ mới có, nhưng trước đây nội thành phát triển chậm nên làng có đủ thì giờ chuyển đổi dần thành khu vực đô thị, tuy vẫn giữ lại hệ thống đường xá nhỏ hẹp quanh co như hiện vẫn đang còn tại nhiều ngõ ngách lâu năm ở Hà Nội hay TP Hồ Chí Minh.


Làng nội đô ngày nay được gọi là phường nhưng về cơ bản vấn giữ hình thái làng với nhiều di sản văn hóa tín ngưỡng như đền chùa, nhà thờ họ, thậm chí cả nghĩa địa. Đất đai lên giá nên nhiều hộ đã xẻ vườn, lấp ao để chuyển nhượng, rồi biến nhà mình thành nhà mặt tiền nhiều tầng trong ngõ xóm. Mật độ dân số, mật độ xây dựng tăng cao. Không còn nghề nông, người dân phải tìm đủ cách để kiếm sống, trong đó có dịch vụ nhà trọ rẻ tiền cho sinh viên và cho người ngoại tỉnh đổ về đô thị. Tỷ lệ người nghèo nơi đây khá cao. Rốt cuộc, làng nội đô trở thành nơi thiếu vệ sinh và kém an ninh, nhà cửa lộn xộn, đi lại ngoắt nghéo, thiếu cống rãnh thoát nước mưa và nước thải nên dễ bị úng ngập khi trời mưa và hồ ao bị ô nhiễm, ít được chiếu sáng về đêm. Trong khi đó thì các dự án bất động sản được thực hiện trên đất đai quanh làng, tạo nên những khu đô thị mới hiện đại nhộn nhịp với nhiều cao ốc bề thế, tạo nên sự tương phản về mọi mặt không dễ chịu chút nào.
Nhân đây xin nói thêm là làng nội đô (village in city) không phải là làng đô thị (urban village) trong đô thị sinh thái, một khu vực đô thị được phát triển theo quy hoạch với những nhà thấp tầng có vườn và đường giao thông tốc độ chậm, thân thiện với người đi bộ và đi xe đạp.
Nông nghiệp đô thị
Nông nghiệp đô thị trên thực tế mới được nhiều đô thị trên thế giới quan tâm phát triển từ khi Thế kỷ XXI bắt đầu. Theo định nghĩa của Tổ chức Lương nông thế giới (FAO) thì đó là hoạt động trồng trọt và chăn nuôi trong nội đô và vùng ven đô, bao gồm từ khâu sản xuất, chế biến đến khâu tiếp thị và bán sản phẩm. Nông nghiệp đô thị cung ứng các thực phẩm tươi sống cho dân đô thị, tiết kiệm được phí vận chuyển và bảo quản kho lạnh. Ngoài ra, còn cung ứng hoa tươi và sinh vật cảnh, các giống rau, giống hoa và các dịch vụ chăm sóc cây cỏ trong nhà, trong vườn, kể cả dịch vụ công viên cây xanh trong đô thị theo phương thức quan hệ đối tác công tư (PPP).
Nông nghiệp đô thị là nông nghiệp thâm canh, áp dụng kỹ thuật cao và công nghệ thẳng đứng, tốn ít đất hoặc không cần đất, sử dụng nước thải đã qua xử lý và phân vi sinh từ xử lý rác hữu cơ.
Nông nghiệp đô thị khiến đô thị vốn là nơi tiêu thụ sản phẩm của nông thôn và trả chất thải trở lại nơi đó, nay trở thành nơi tự sản suất một phần thực phẩm tươi sống, chế biến và tái sử dụng phần lớn chất thải. Hoạt động nông nghiệp còn là thú vui giúp thị dân thư dãn, hòa đồng và tăng cường sức khỏe. Nông nghiệp đô thị còn giúp cải thiện môi trường đô thị. Cuối cùng, nông nghiệp đô thị mở ra hướng phát triển mới cho vùng ven đô và làng nội đô.
Chiến lược phát triển bền vững vùng ven đô
Chiến lược phát triển vùng ven đô là một bộ phận của Chiến lược phát triển đô thị. Trên cơ sở tiếp thu tư duy phát triển đô thị hiện đại và tham khảo chiến lược phát triển đô thị bền vững đang được Ngân hàng Thế giới ra sức cổ vũ, tôi không tự lượng sức mình mà xin mạnh dạn đề xuất chiến lược phát triển bền vững vùng ven đô các đô thị lớn nước ta gồm 4 nội dung cơ bản là:1/ Nông nghiệp đô thị; 2/ Vành đai xanh; 3/ Cộng đồng sống tốt; và 4/ Trị lý giỏi.
Sau đây tôi xin trình bày vắn tắt ý tưởng của mình về mỗi nội dung đó.
1. Nông nghiệp đô thị
Nói chung các làng trong vùng ven đô, trừ các làng nghề, cần chuyển hướng sản xuất từ nông nghiệp truyền thống sang nông nghiệp đô thị. Nông dân nên được tạo điều kiện để trở thành chủ nông trại và tham gia Hợp tác xã kiểu mới. HTX chỉ lo định hướng sản xuất, chăm lo cung ứng đầu vào cho sản xuất (giống, phân bón, thuốc trừ sâu, tưới tiêu, nông cơ, xăng dầu v.v.) và tổ chức các khâu chế biến, tiếp thị và tiêu thụ các sản phẩm đầu ra, trong khi chủ nông trại tự tổ chức lấy việc sản xuất. Các nông dân ít đất thì cho chủ nông trại thuê đất rồi làm thuê cho họ hoặc chuyển sang nghề khác như làm việc trong các cơ sở chế biến, vận tải và mạng lưới cửa hàng nông sản trong nội đô v.v… của HTX.
2. Vành đai xanh
Vùng ven đô nên được kết nối liên tục thành vành đai xanh.
Vành đai xanh là một chủ trương mà các nhà quy hoạch đô thị Anh Quốc áp dụng từ thập kỷ 30 thế kỷ trước, sau đó được nhiều đô thị khác trên thế giới làm theo. Mục đích tạo lập vành đai xanh là để bảo vệ môi trường tự nhiên, cải thiện chất lượng không khí trong nội đô, tạo điều kiện giữ gìn bản sắc cộng đồng nông thôn khỏi bị đô thị đồng hóa và người dân đô thị dễ dàng tiếp xúc với thôn quê. Sang Thế kỷ XXI, trường phái quy hoạch gọi là “gia cố đô thị” (urban consolidation) chủ trương tăng thêm mật độ xây dựng và mật độ dân cư các khu vực đô thị hiện hữu để tận dụng hệ thống kết cấu hạ tầng đã xây dựng, và dùng vành đai xanh để ngăn chặn việc mở rộng đô thị ra đất nông nghiệp chưa có hạ tầng, nhất là hiện tượng vòi bạch tuộc.
Để đạt được mục đích đề ra thì vành đai xanh phải được quy hoạch chi tiết, có chương trình đầu tư xây dựng hạ tầng, việc quản lý phải có khuôn khổ pháp lý chặt chẽ.
3. Cộng đồng sống tốt (Community Livability) và Trị lý giỏi (Good Governance)
Hai nội dung Cộng đồng sống tốt và Trị lý giỏi không khác gì so với nội dung cùng tên gọi trong Chiến lược phát triển đô thị bền vững.
Yêu cầu tổng quát của Chiến lược phát triển bền vững vùng ven đô là làm cho người dân nơi đây có thu nhập từ nông nghiệp đô thị và chất lượng cuộc sống không chênh lệch mấy so với người khu vực nội đô.
Định hướng phát triển làng nội đô
Trong chiến lược phát triển đô thị bền vững cần có định hướng riêng cho phát triển làng nội đô. Định hướng này gồm 4 nội dung cơ bản như sau: 1/Nông nghiệp đô thị; 2/Nâng cấp hạ tầng; 3/Cộng đồng sống tốt; và 4/Trị lý giỏi. Hai nội dung sau đã có trong Chiến lược phát triển đô thị bền vững, nên ở đây chỉ giải trình thêm về 2 nội dung đầu.
1. Nông nghiệp đô thị
Người dân làng nội đô không những làm nông nghiệp trong làng, tại các vườn đào, phong lan, cây cảnh, ao sen kết hợp làm địa điểm du lịch, còn nhận làm dịch vụ cho thuê chậu hoa cây cảnh, chăm sóc cây cỏ trồng trong vườn, trong nhà tư gia, trong cơ quan trường học, trong công viên, vườn hoa và cây xanh đường phố v.v., cung ứng con giống, vật tư, trang bị, thức ăn cho những người nuôi chim, thú, cá cảnh…Làng nội đô cũng là địa điểm tham quan ngoại khóa về môn sinh học cho học sinh nội đô, là nơi thư dãn cho người nội đô (câu cá, nghe chim hót, ngắm bướm bay…).
2. Nâng cấp đô thị
Mở rộng và nắn thẳng đường xá, xây cống rãnh, cấp nước máy, chiếu sáng công cộng, xóa bỏ nhà tạm và nhà cấp 4, bổ sung các công trình hạ tầng xã hội cần thiết là nội dung nâng cấp đô thị có sự tham gia của cộng đồng tại làng nội đô. Hiện nay một số đô thị nước ta đang thực hiện nâng cấp đô thị với sự giúp đỡ của Ngân hàng Thế giới.
Hướng phát triển lâu dài là dần dần chuyển đổi làng nội đô thành làng đô thị phù hợp với khái niệm đô thị sinh thái.
Kết luận
Nông nhiệp đô thị có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với sự phát triển bền vững của vùng ven đô và làng nội đô. Phát triển nông nghiệp đô thị sẽ dẫn đến sự đổi mới cơ bản cho những nơi này, vì thế đó phải là một bộ phận quan trọng trong Chiến lược phát triển đô thị bền vững của nước ta đang được nghiên cứu. Bài viết này trình bày vắn tắt những ý tưởng cơ bản ban đầu trên cơ sở tiếp thu tư duy đô thị học hiện đại, mong nhận được sự đánh giá của các chuyên gia nông nghiệp, chuyên gia đô thị học và quy hoạch đô thị và các nhà lãnh đạo đô thị. Cũng mong rằng việc nghiên cứu sâu sắc và sáng tạo về chủ đề phát triển vùng ven đô và làng nội đô sẽ được được đông đảo các nhà đô thị học trẻ của nước ta khởi động và đạt được thành tựu.
(Nguồn Tạp chí : Người xây dựng- Tổng hội xây dựng Việt Nam)